Wednesday, 20 May 2026

Từ vựng: thích danh

 

Sách Thích Danh viết rằng:

Thích trưởng ấu (Giải thích về các giai đoạn từ nhỏ đến già)
Người mới sinh ra gọi là "anh nhi" (嬰兒). Phía trước ngực gọi là "anh" (嬰), bế ấp vào phía trước ngực mà nuôi bằng sữa vậy. Hoặc gọi là "ê nghê" (嫛婗): "ê" (嫛) nghĩa là "phải, ấy", ý nói đó là người; "nghê" (婗) là tiếng khóc của nó, bởi thế lấy đó mà đặt tên cho nó.
"Nam" (男) nghĩa là "nhậm" (任), coi việc, gánh vác việc.
"Nữ" (女) nghĩa là "như" (如), người đàn bà lấy chồng về nhà chồng nên gọi là "như" (nương tựa, theo). Bởi thế, nghĩa "Tam tòng" (三從): lúc nhỏ theo giáo hóa của cha, lúc lấy chồng theo mệnh lệnh của chồng, lúc già theo lời của con. Vùng Thanh Châu, Từ Châu (青、徐州) gọi là "ngô" (娪). "Ngô" (娪) nghĩa là "ngộ" (忤), lúc mới sinh, ý người không vui, vẻ ngang bướng vậy.
Con trẻ bắt đầu biết đi gọi là "nhu" (孺), "nhu" (孺) nghĩa là "nhu" (濡), nói ý yếu ớt vậy.
Bảy tuổi gọi là "điệu" (悼), "điệu" (悼) nghĩa là "đào" (逃), biết có liêm sỉ, ẩn giấu tình cảm của mình. Cũng nói lúc tuổi này mà chết thì thương tiếc vậy.
Khi thay răng gọi là "sấn" (齔), "sấn" (齔) nghĩa là "tẩy" (洗), rửa sạch răng cũ, thay sinh răng mới.
"Trưởng" (長) . Nghĩa là "tràng" (萇), nói thân thể dài ra vậy.
"Ấu" (幼) nghĩa là "thiếu" (少), nói ngày sinh còn ít vậy.
Mười lăm tuổi gọi là "đồng" (童). Cho nên lễ có dương đồng (陽童). Trâu dê không có sừng gọi là đồng, núi không có cây cỏ gọi là đồng, ý nói chưa đội mũ (巾冠) giống như vậy. Con gái chưa cài trâm (笄) cũng gọi là vậy.
Hai mươi tuổi gọi là "nhược" (弱), nói còn yếu ớt vậy.
Ba mươi tuổi gọi là "tráng" (壯), nói mạnh mẽ vậy.
Bốn mươi tuổi gọi là "cường" (强), nói cứng cỏi vậy.
Năm mươi tuổi gọi là "ngải" (艾), "ngải" (艾) nghĩa là "trị" (治), xử lý việc có thể cắt xén, không có gì nghi ngờ vậy.
Sáu mươi tuổi gọi là "kỳ" (耆), "kỳ" (耆) nghĩa là "chỉ" (指), không phải dùng sức lao động, chỉ việc sai bảo người vậy.
Bảy mươi tuổi gọi là "mạo" (耄), tóc trắng bạc phơ (mạo mạo) vậy.
Tám mươi tuổi gọi là "điệt" (耋), "điệt" (耋) nghĩa là "thiết" (鐵), da thịt biến thành màu đen như sắt vậy.
Chín mươi tuổi gọi là "Thai bối" (鮐背), trên lưng có vân da giống cá Thai (鮐). Hoặc gọi là "hoàng cẩu" (黃耇), tóc mai biến thành màu vàng vậy. "Cẩu" (耇) nghĩa là "cấu" (垢), sắc da đen xạm, thường như có cáu bẩn vậy. Hoặc gọi là "hồ cẩu" (胡耇), da yết hầu như diều gà vậy. Hoặc gọi là "đông lê" (凍梨), da có vết đen lốm đốm như màu quả lê bị đông lạnh vậy. Hoặc gọi là "nghê" (齯), "nghê" (齯) nghĩa là răng lớn rụng hết, lại sinh ra răng nhỏ, như răng trẻ con vậy.
Một trăm tuổi gọi là "kỳ di" (期頤). "Di" (頤) nghĩa là "dưỡng" (養), nuôi dưỡng. Người già lẫn lộn không còn biết mùi vị tốt xấu, con cháu hiếu thảm mong ở nơi hết lòng nuôi dưỡng vậy.
"Lão" (老) nghĩa là "hủ" (朽), già mà không chết gọi là "tiên" (仙). "Tiên" (仙) nghĩa là "thiên" (遷), dời vào núi. Cho nên chữ đó viết là chữ "nhân" (人) bên cạnh chữ "sơn" (山).
Thích thân thuộc (Giải thích về họ hàng thân thích)
"Thân" (親) nghĩa là "sấn" (襯), nói nương tựa che chở lẫn nhau vậy.
"Thuộc" (屬) nghĩa là "tục" (續), nối tiếp, ơn nghĩa nối liền vậy.
"Phụ" (父) nghĩa là "phủ" (甫), bắt đầu sinh ra mình vậy.
"Mẫu" (母) nghĩa là "mạo" (冒), che chở sinh ra mình vậy.
"Tổ" (祖) nghĩa là "tộ" (祚), nền tảng, vật bắt đầu (của cải). Lại gọi là "vương phụ" (王父). "Vương" (王) nghĩa là "Uông" (暀), nơi trong nhà mà mọi người quy về. "Vương mẫu" (王母) cũng như vậy.
"Tằng tổ" (曾祖): từ dưới suy lên trên, ngôi bậc của tổ, chuyển tiếp thêm vậy.
"Cao tổ" (高祖): "Cao" (高) nghĩa là "cao" (皋), ở trên cùng, che chở bao bọc các bậc dưới vậy.
"Huynh" (兄) nghĩa là "hoang" (荒), "hoang" (荒) nghĩa là "đại" (lớn), cho nên người vùng Thanh, Từ gọi anh là "hoang" vậy.
"Đệ" (弟) nghĩa là "đệ" (第), kế tiếp theo bậc thứ tự lên vậy.
"Tử" (子) nghĩa là "tư" (孳), sinh sôi nảy nở vậy.
"Tôn" (孫) nghĩa là "tốn" (遜), lùi sau sinh ra vậy.
"Tằng tôn" (曾孫) nghĩa như "tằng tổ" (曾祖) vậy.
"Huyền tôn" (玄孫): "Huyền" (玄) nghĩa là "huyền" (懸), treo lên ở Cao tổ, ở dưới cùng vậy.
Con của "huyền tôn" (玄孫) gọi là "lai tôn" (來孫): bậc này ở ngoài diện phục tang (無服), ý tứ sơ xa, gọi mới đến.
Con của "lai tôn" (來孫) gọi là "côn tôn" (昆孫). "Côn" (昆) nghĩa là "quán" (貫), ân tình chuyển xa, dùng lễ để xâu chuỗi lại vậy.
Con của "côn tôn" (昆孫) gọi là "nhưng tôn" (仍孙), dùng lễ vẫn còn có đó thôi, ân ý thực sự đã xa vậy.
Con của "nhưng tôn" (仍孫) gọi là "vân tôn" (雲孫), nói xa mình như mây nổi vậy. Đều là nói về những người lấy vợ sớm, chết muộn, sống lâu vậy.
Anh của cha gọi là "thế phụ" (世父), nói là dòng dõi chính thống nối đời vậy. Lại gọi là "bá phụ" (伯父). "Bá" (伯) nghĩa là "bả" (把), nắm giữ việc nhà vậy.
Em của cha gọi là "trọng phụ" (仲父). "Trọng" (仲) nghĩa là "trung" (中), ngôi ở giữa vậy.
Em của "trọng phụ" (仲父) gọi là "thúc phụ" (叔父). "Thúc" (叔) nghĩa là "thiếu" (少).
Em của "thúc phụ" (叔父) gọi là "quý phụ" (季父). "Quý" (季) nghĩa là "quý" (癸), thứ tự Giáp Ất, Quý ở dưới cùng, "quý" (季) cũng như vậy.
Vợ chồng của chú bác ruột của cha (ông bà cô, chú bác ruột của cha) gọi là "tòng tổ phụ mẫu" (從祖父母), nói theo bậc tổ ruột của mình mà tách xuống, cũng nói theo cha mình để đặt tên vậy.
Chị em gái của cha gọi là "cô" (姑). "Cô" (姑) nghĩa là "cố" (故), nói đối với mình là người cũ lâu năm vậy.
"Tỷ" (姊) nghĩa là "tích" (積), ví như mặt trời mới mọc, thời gian tích lũy nhiều thì sáng vậy.
"Muội" (妹) nghĩa là "muội" (昧), ví như mặt trời mới lặn, trải qua thời gian ít còn tối mờ vậy.
Cô gọi con gái của anh chị em mình là "điệt" (姪). "Điệt" (姪) nghĩa là "điệt" (迭), cùng nhau làm việc phụng sự chồng, thay phiên hầu hạ vậy.
Cha của chồng gọi là "cữu" (舅), "cữu" (舅) nghĩa là "cửu" (久), xưng hô người già lâu năm vậy.
Mẹ của chồng gọi là "cô" (姑), cũng nói là "cố" (故) vậy.
Anh em trai của mẹ gọi là "cữu" (舅), cũng như vậy.
Cha của vợ gọi là "ngoại cữu" (外舅), mẹ của vợ gọi là "ngoại cô" (外姑). Nói vợ từ ngoài đến, đến nhà mình làm vợ, cho nên ngược lại dùng nghĩa này mà gọi, là nghĩa vợ chồng ngang hàng vậy.
Anh em trai của vợ gọi là "ngoại sanh" (外甥). Con gái của chị em vợ (cháu gái), về nhà mình bên trong làm vợ, cho nên con trai của họ là "ngoại sanh" vậy. "Sanh" (甥) nghĩa là "sinh" (生), con của họ khác họ, vốn sinh ra ở bên ngoài, không thể như con gái của mình (tức vợ) vào ở bên trong vậy.
Con của chị em gái (dì, cô) gọi là "xuất" (出), nghĩa là gả đi cho họ khác (xuất giá) mà sinh ra vậy.
Con của "xuất" (出) gọi là "ly tôn" (離孫), nói xa lìa mình vậy.
Con của "điệt" (姪) gọi là "quy tôn" (歸孫). Phụ nữ nói lấy chồng gọi là "quy" (歸) (trở về nhà chồng). "Điệt" (姪) là con gái của anh chị em (gọi mình bằng cô hoặc dì), đã xuất giá, cho nên con của nó gọi là tôn (cháu) vậy.
Chị em gái của vợ gọi là "đệ" (娣). "Đệ" (娣) nghĩa là "đệ" (弟), nói là em, sánh với vợ mình (chị) là chị em vậy.
Chị em gái của mẹ gọi là "di" (姨), cũng như vậy. Lễ gọi là "tòng mẫu" (從母). Vì là em của mẹ thì theo hàng của mẹ, cho nên dù không phải là em ruột (cùng mẹ) vẫn lấy tên đó mà gọi.
Chị em gái (của vợ hoặc của chồng) gọi lẫn nhau là "tư" (私) đối với chồng của mình, nói trong anh em của chồng mình, người này có ơn tình riêng với chị em mình vậy.
Cậu (anh em trai của mẹ) gọi con của chị em gái mình là "sanh" (甥). "Sanh" (甥) cũng là "sinh" (生), con gái xuất giá phối hợp với người đàn ông khác mà sinh ra, cho nên chữ đó viết là bộ "nam" (男) bên cạnh chữ "sinh" (生) vậy.
Vợ lẽ gọi vợ cả của chồng (chính thất) là "nữ quân" (女君). Chồng là "nam quân" (男君), cho nên gọi vợ mình là "nữ quân" vậy.
"Tẩu" (嫂) nghĩa là "tẩu" (叟), "tẩu" (叟) là xưng hô người già. "Tẩu" (叟) cũng nghĩa là "súc" (縮), người và vật về già đều nhỏ lại so với lúc trước vậy.
"Thúc" (叔) nghĩa là "thiếu" (少), xưng hô người trẻ. "Thúc" (叔) cũng nghĩa là "thúc" (俶), khi thấy chị dâu thì bỡ ngỡ lùi bước vậy.
Anh của chồng gọi là "công" (公), "công" (公) nghĩa là "quân" (君), "quân" là xưng hô tôn kính vậy.
Trong dân gian gọi là "huynh chương" (兄章), "chương" (章) nghĩa là "chước" (灼), chói sáng, nghĩa là tôn kính phụng thờ vậy. Lại gọi là "huynh tung" (兄忪), là người mình kính trọng, thấy thì run sợ, tự mình nghiêm chỉnh vậy. Thường gọi hoặc gọi "cữu" (舅) là "chương" (章), lại gọi là "tung" (忪), cũng như vậy.
Vợ trẻ gọi vợ cả của chồng (chị dâu) là "tự" (姒), nói người đến trước, mình nên bắt chước theo vậy.
Vợ cả gọi vợ lẽ (em dâu) là "đệ" (娣), "đệ" (弟) nghĩa là em, người đến sau vậy. Hoặc gọi là "tiên hậu" (先後), nói theo thứ tự đến trước đến sau vậy.
Người vùng Thanh, Từ gọi vợ cả là "chức trưởng" (稙長), mạ non trổ trước gọi là "chức" (稙), lấy đó đặt tên vậy. Người vùng Kinh, Dự gọi vợ cả là "thục" (熟). "Thục" (熟) nghĩa là "chúc" (祝), "chúc" (祝) nghĩa là "thủy" (始), bắt đầu.
Hai người làm rể (lấy hai chị em) gọi lẫn nhau là "á" (亞), nói một người lấy chị, một người lấy em, kế tiếp bậc nhau vậy. Lại cùng đến nhà bên vợ, anh rể ở trước, em rể ở sau, cũng kế tiếp nhau và dựa vào nhau mà cùng thành lễ vậy. Lại gọi là "nữ tế" (女婿), nói thân nhau như bạn bè vậy.
Cha của vợ (nhạc phụ) gọi là "hôn" (婚), nói chàng rể thân nghênh (đón dâu) lúc hoàng hôn, lại thường lúc chập tối mà thành lễ vậy.
Cha của chồng (nhạc gia) gọi là "nhân" (姻). "Nhân" (姻) nghĩa là "nhân" (因), con gái đi theo nhờ mối lái vậy.
Vợ của Thiên tử gọi là "hậu" (后). "Hậu" (后) nghĩa là "hậu" (後), nói ở sau, không dám lấy danh phó (副) mà nói vậy.
Vợ của chư hầu gọi là "phu nhân" (夫人). "Phu" (夫) nghĩa là "phù" (扶), giúp đỡ vua của mình vậy.
Vợ của khanh gọi là "nội tử" (內子). "Tử" (子) là con gái, ở trong cửa khuê phòng, lo việc nhà vậy.
Vợ của đại phu gọi là "mệnh phụ" (命婦). "Phụ" (婦) nghĩa là "phục" (服), phục vụ việc nhà. Chồng chịu mệnh lệnh ở triều đình, vợ chịu mệnh lệnh ở trong nhà vậy.
Vợ của sĩ và thứ nhân gọi là "thê" (妻). "Thê" (妻) nghĩa là "tề" (齊), ngang hàng. Vì chồng thấp hèn không đủ để tôn xưng, cho nên dùng lời ngang hàng mà gọi vậy.
Vợ lẽ của Thiên tử có "tần" (嬪). "Tần" (嬪) nghĩa là "tân" (賓), trong các vợ lẽ được coi như khách quý vậy.
"Thiếp" (妾) nghĩa là "tiếp" (接), là kẻ hèn được nối tiếp, may mắn vậy.
"Điệt" (姪) và "đệ" (娣) gọi là "dắng" (媵). "Dắng" (媵) nghĩa là "thừa sự" (承事), hầu hạ vợ cả vậy.
"Phối" (配) nghĩa là "bối" (輩), một người ở một mình, một người đến làm bạn, kết đôi vậy.
"Thất" (匹) nghĩa là "thích" (辟), đi đến bắt cặp với nhau vậy.
"Ngẫu" (耦) nghĩa là "ngộ" (遇), hai người đối diện gặp gỡ vậy.
"Đích" (嫡) nghĩa là "địch" (敵), ngang hàng với vợ cả vậy.
"Thứ" (庶) nghĩa là "thức" (摭), nhặt nhạnh, ý nói đối đãi như kẻ hèn mọn nhỏ bé vậy.
Không vợ gọi là "quan" (鰥). "Quan" (鰥) nghĩa là "côn" (昆), "côn" (昆) nghĩa là "minh" (明), sáng. Buồn bực không ngủ, mắt luôn quan quan (鰥鰥) vậy. Cho nên chữ đó từ bộ "ngư" (魚), mắt cá thường không nhắm vậy.
Không chồng gọi là "quả" (寡). "Quả" (寡) nghĩa là "hoài" (踝), hoài hoài (踝踝), lời nói cô độc vậy.
Không cha gọi là "cô" (孤). "Cô" (孤) nghĩa là "cố" (顧), ngoái nhìn không thấy gì vậy.
Già mà không con gọi là "độc" (獨). "Độc" (獨) nghĩa là "chỉ độc" (隻獨), nói không nơi nương tựa vậy.
______________________________



________
PS : Tất nhiên đây không phải sách Ta , các bác muốn xem ta như thế nào chờ tìm bài tập lớn của lớp Htp4-K17 để đọc sẽ rõ!

Tham khảo

No comments:

Post a Comment

Học tiếng Trung online: Tiền 钱

​Hình 1   ​Nội dung chữ: 帅哥有很多,有钱的没几个。 • ​Phiên âm (Pinyin): Shuài gē yǒu hěnduō, yǒu qián de méi jǐ gè. • ​Dịch nghĩa: Trai đẹp thì có ...